Thông báo phòng nha
GIỜ MỞ CỬA:

- Buổi sáng từ: 15h30 đến 20h00 , Chủ nhật nghỉ buổi chiều

- Các buổi sáng dành cho trường hợp đặc biệt có hẹn trước

Chi tiết bài viết
Luân hồi đầu thai tại Ấn Độ: Trường hợp bé Shanti Devi

Trước khi xem câu chuyện về tái sinh của cô bé Shanti Devi. Chúng ta cần biết qua hiện tượng kiếp sau và hiện tượng thần đồng là khoa học và đã được giải thích bằng khoa học -y học,nên không có gì là huyền bí. ..

Các nhà khoa học về cơ thể học đã chứng minh được tuyến pineal gland (TUYẾN TÙNG QUẢ) nằm cạnh tuyến não thùy (pitutary gland), có kích thước bằng hạt đậu chỉ tồn tại lúc ta còn trẻ , lúc mới sinh ra , đến năm 4 tuổi tuyến tùng quả bắt đầu thoái hóa và tiêu đi từ năm 9 tuổi đến lúc trưởng thành, tuyến tùng quả không còn nữa, nếu người trưởng thành mà tuyến tùng quả không tiêu, không biến mất đi thì nó có thể biến thành khối u , nếu u lành có thể phẫu thuật cắt bỏ , cón nếu biến thành ung thư thì cũng không chữa được. TUYẾN TÙNG QUẢ  quan trọng thế nào với đời sống của một người?. Các nhà khoa học cũng chưa biết rõ ảnh hưởng của tuyến tùng quả đến nền văn minh của loài người cũng như ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của đứa bé khi lớn lên, nhưng từng bước khoa học đã giải mã được một số vấn đề :

       1/Tuyến tùng quả là nơi mà đời sống kiếp trước được lưu giữ lại gần như vô thức, nhờ đó mà nền văn minh của con người được phát triển kế thừa do đó mà xã hội mới và nền văn minh mới được lưu truyền và phát huy mà chúng ta đời sau không biết. Thật ra khoa học cũng bí vì không biết được mấy chục ngàn năm trước có thể nhiều nền văn minh của con người đã bị hủy diệt, và biết đâu nến văn minh cũ xa xưa cao hơn và trí tuệ hơn bây giờ ?(Khoảng 40.000 năm về trước, khi con người đã có mặt trên hành tinh nầy) . Luân hồi và kiếp trước, kiếp sau là khoa học có trước tất cả các tôn giáo kể cả đạo Phật, nhưng chỉ duy nhất là Đức Phật đã thấy và chỉ cho chúng sanh thấy được, điều nầy các tôn giáo Thần linh hay Thượng Đế không  thấy. Đức Phật đã từng giải thích cho các đệ tử là: "Hãy nhìn sông Hằng đổ ra biển, bao nhiêu hạt cát là bấy nhiêu kiếp," trùng trùng vạn vạn kiếp mà chúng sanh trôi nổi nhiều đời sanh tử luân hồi đã không biết được, đó là vô minh .Ông bà ta không hẵn là đạo Phật, nhưng có kiến thức về luân hồi rất mộc mạc và đơn giản “Khi đầu thai vào kiếp người mới, ai cũng phải qua một con sông và bị ngài Địa Tạng vương cho ăn cháo lú”  nên quên hết tiền kiếp. Trong chuyện Tây Du Ký, Thầy trò Tam Tạng bị cơn gió thổi khi qua sông kinh sách trôi lềnh bềnh để rồi quên hết khi tỉnh dậy, không còn nhớ lại cảnh Phật nữa.Tuy quan niệm rất mộc mạc nhưng lại có ý nghĩa khi nền văn minh mới và khoa học Y Học đã chứng minh được một phần những dữ liệu mà ta cho là thần bí . ..

2/ Không phải tất cả mọi người nhờ tuyến tùng quả mà biết được kiếp trước, rất hiếm các trường hợp nhớ lại kiếp trước đó là hiện tượng rất đặc biệt mà chỉ có một số ít đứa bé có được, nhưng sau 9 tuổi nó sẽ quên dần, ĐÓ LÀ HIỆN TƯỢNG THẦN ĐỒNG.Từ 2 tuổi rười đến 7 tuôi là lúc mà tuyến tùng quả hoạt dộng mạnh nhất, đứa bé nhớ lại kiếp trước cũng ở khoảng tuổi nầy, sau đó đến 9 tuổi đứa bé dần dần quên đi. Các nhà khoa học khuyên nên duy trì những hiện tượng mà ta cho là thần đồng như: mới 2 tuổi rưỡi đã biết dọc sách báo, TV, nói sinh ngữ, đọc tiếng Anh danh dách, làm toán rất nhanh, nhớ những con số dài dằn dặc, cho kết quả tính toán nhanh hơn máy vi tính. Nếu ta không biết nuôi dưỡng tài năng và phát huy nó thì tài năng đó cũng sẽ mất dần theo thời gian khi đứa bé đến 9 tuổi.Các nhà soạn nhạc tài ba, các nhạc sĩ rất giỏi mà ta gọi là năng khiếu bẩm sinh hay thần đồng phải tiếp tục tập luyện mới trở thành đỉnh cao. VÌ SAO ?.Kiếp trước của những thần đồng nầy là các nhà bác học hay giáo sư (Toán học, văn chương hay nhà ngôn ngữ học, âm nhạc...), họ rất yêu nghề và nguyện kiếp sau sẽ tiếp tục hành nghề (Giống như những lời nguyện của các bậc tu hành), đứa bé mà ta gọi là thần đồng, tái sinh đời sau, chính là hiện thân của một vị đã mất ở đời trước.  Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 là vị tái sinh của Đức Dalailatma 13. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng linh thiêng, nhưng nếu giải thích theo khoa học, nếu không tìm được đứa bé trước 3 tuổi thì mãi mãi không có Đức Dalalama 14.  Ai đã từng đọc lịch sử khi các Lat Ma Tây Tạng đi tìm Dalalatma đời sau sẽ thấy rõ điều nầy: Sau 2 năm đi tìm đứa bé tái sinh mà không được, cuối cùng đoàn phải đến Đài Loan để nhờ một vị ngoại cảm tìm giúp...và sau đó đoàn đã tìm được Kundum 2,5 tuổi sinh ra ờ một ngôi nhà có mái nhà màu xanh gần đó có một hồ nước (Trong khi các nhà xung quanh có mái ngói đỏ), nếu chậm hơn sẽ không tìm được Dalalatma 14!. Chúng ta  phần lớn không nhớ được kiếp trước, nhưng đôi khi nằm mơ thấy và trên thực tế có người cảm nhận được hình như đã thất cảnh nầy rồi nhưng không biết mà tưởng đó là trong giấc mơ đã thấy !. Nhà báo khi đăng tin THẦN ĐỒNG nếu là đạo Phật thì cảm nhận được về kiếp tái sinh, nhưng trong truyền thông báo chí không được đưa tôn giáo vào, nên có biết hay cảm nhận được,  nhà báo cũng không được nói vì tuyên truyền cho một tôn giáo là không được phép. Những hiện tượng mà khoa học chưa chứng minh và chưa giải thích được thì chúng ta cho đó là hiện ma quỷ, mê tín, nhưng nếu khoa học soi sáng được thì đó là khoa học. Lùi lại thời kỳ của Quang Trung-Nguyễn Huệ nếu dân chúng thấy máy điện tín kêu Tít Tít te te sẽ cho là hiện tượng ma quỷ, hay nếu có một màn hình TV hiện ra thời đó sẽ cho là ma quỷ hiện hình. Còn giác quan thứ sáu chỉ có những người thân như cha mẹ, vợ chồng con cái ở gân nhau mới có, khoa học làm các thực nghiệm  thì công nhận là có giác quan thứ 6, không phải chỉ có ở người mà cũng có ở các loài động vật, thực vật. Khoa học không giải thích nổi giác quan thứ 6 truyền đi bằng cách nào? làn sóng, điện trường hay từ trường ? mà rất nhanh hơn cả sóng siêu âm (Micro wave) của cellphone?. Có một số các nhà triết học thế kỷ trước cho rằng KHOA HỌC LÀ MỘT SỰ HỒI TƯỞNG, những phát minh khoa học mà chúng ta cho là hiện đại tối tân, MỚI NHẤT CỦA TRÍ TUỆ chẳng qua CHỈ LÀ SỰ NHỚ LẠI, HỒI TƯỞNG LẠI TỪ BIẾT BAO NỀN VĂN MINH ĐÃ QUA?...

   Tóm lại kiếp trước-kiếp sau, tái sinh luân hồi đều nằm trong một qui luật không phải của Phật hay thượng đế nào cả, mà rất khoa học và chỉ có các nhà bác học nguyên tử, vật lý và vũ trụ mới cảm nhận được.Một thí dụ về luân hồi rất khoa học là sao chổi, chúng ta tính toán được quỹ đạo nó sẽ trở lại trong 30 năm, 60 năm, 300 năm, nhưng có những ngôi sao sẽ trở lại gần trái đất trong vòng 1 triệu năm thì các nhà thiên văn không tính được và nói là ngôi sao nầy sẽ đi luôn và vĩnh viễn không trở lại, có chắc như thế không? vì trình độ tính tóan khoa học của chúng ta hạn chế và chưa đạt được.Một thí dụ sau cùng là LỖ ĐEN TRONG VŨ TRỤ mà các nhà thiên văn vẫn chưa hiểu gì cả trong đó có nhà khoa học Hawking của Anh quốc? (Trí Vịnh)

     Bây giờ chúng ta hãy đọc một tài liệu về kiếp tái sinh của đứa bé Ấn Độ tên Shanti Devi . Đây cũng là một trong hàng ngàn các câu chuyện đã được đăng tải trong nhiều sách và tài liệu của thế giới, nếu không có thật thì chúng ta không tin...

 

Luân hồi đầu thai tại Ấn Độ:
Trường hợp bé Shanti Devi









http://ue.vnweblogs.com/gallery/18513/Hoavan_1.gif








alt








Câu chuyện có thật về cô bé Shanti Devi đã một thời chấn động toàn thể đất nước Ấn Độ. Những tờ báo lớn, đài phát thanh, các phái đoàn khoa học quốc tế ngày đó, thậm chí cả Thủ

tướng Mahatma Gandhi,Thánh Ghandi cũng đã từng đích thân tới gặp mặt Shanti hỏi chuyện.








    Shanti Devi ( 1926 - 1987 )


Trái với tưởng tượng của chúng ta, kiến thức về hiện tượng luân hồi đã có từ rất lâu trước khi tôn giáo xuất hiện và nó hoàn toàn không phải là sản phẩm của tôn giáo.

Quy luật luân hồi đầu thai đã được hiểu biết từ những thời kỳ bí ẩn xa xưa, từ trước khi Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo, vv… ra đời nhiều ngàn năm.








Ngay từ những thời kỳ đầu tiên của các nền văn minh cổ Ai Cập, Lưỡng Hà, cổ Hy Lạp,… hiện tượng Luân hồi tái sinh đã được đề cập đến như là một quy luật của sự sống. Những thập

kỷ gần đây, ngày càng nhiều nhà khoa học có tên tuổi, các giáo sư tiến sỹ, các nhà nghiên cứu, và đặc biệt là các bác sỹ bắt đầu đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu hiện tượng luân hồi đầu thai.








Trong khi đó tại khắp nơi trên thế giới hiện tượng luân hồi tái sinh vẫn liên tục xảy ra, dù các trường hợp ấy có được người ngoài cuộc biết đến hay không.      








Tại Delhi, hầu như ai cũng biết chuyện bé Shanti tái sinh. Về sau ông Viresh Narair người anh ruột của Shanti đã thường đón tiếp các nhà báo, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu

khắp nơi trên thế giới đến tìm hiểu và ông đã kể lại mọi chi tiết về trường hợp của em gái mình. Nhiều năm sau khi Shanti Devi qua đời, trường hợp độc nhất vô nhị của bà vẫn thu hút sự quan tâm của rất nhiều người.








Cô bé Shanti Devi sinh ngày 11/12/1926 tại Dehli, Ấn Độ. Bé biết nói vào năm 3 tuổi, chậm hơn các trẻ em bình thường khác nhiều. Bé thường trầm tư một cách lạ thường. Đôi khi những

đứa trẻ khác chọc ghẹo quấy phá, ồn ào xích mích thì Shanti thường tỏ ra nhẫn nhục chịu đựng, nhưng đồng thời cũng nghiêm trang như một người lớn và dàn xếp mọi chuyện một cách êm đẹp. Một ngày, khi Shanti ngồi chung với gia đình trong bữa cơm chiều, bé bảo

mẹ:








- Mẹ ơi! Mẹ nấu những món ăn khác với những gì con đã ăn lúc ở thị trấn Mathura quá. Những món này con ăn không quen. Còn quần áo cũng khác với nơi con đã sống trước đây. Mẹ biết

không, gia đình con hồi đó có một tiệm bán áo quần và căn nhà con đã ở sơn màu vàng. 



Mọi người trong nhà lúc đầu rất ngạc nhiên nhưng sau đó trở thành quen và không ai còn quan tâm đến đứa bé con đôi khi phát ngôn những câu “bậy bạ”… Tuy nhiên, Shanti

ngày càng tỏ ra nôn nóng và năn nỉ cha mẹ dẫn mình đến thăm căn nhà cũ ở Mathura, và để thăm người chồng ngày xưa hiện vẫn còn sống ở đó.








Một nhà giáo ở Delhi nghe chuyện lạ về Shanti bèn tới tìm hiểu thực hư. Lúc đó Shanti đúng 8 tuổi. Người giáo viên này yêu cầu bé rằng nếu kiếp trước quả thật bé đã sống ở thị

trấn Mathura và có chồng ở đó thì hãy thử nhớ lại tên người đó xem. Shanti liền trả lời:








     “Nếu cháu gặp anh ấy cháu sẽ nhận ra ngay”.








Theo báo cáo ghi lại, sở dĩ Shanti không nhắc đến tên chồng là do phong tục của người Ấn theo đạo Hindu thì người vợ không bao giờ nói tên chồng mình cho người khác biết. Thế là

ông giáo này bèn mua quà cho bé, và còn hứa rằng nếu bé nói ra tên người chồng tiền kiếp thì ông ta sẽ giúp bé đến thị trấn Mathura. Shanti suy nghĩ một hồi rồi xích lại gần nhà giáo và nói nhỏ vào tai ông ta: “Ông nhớ giữ kín nhé! Tên chồng cháu lúc đó là

Pandit Kedernath Chowbey“.








Người cha của bé Shanti cho biết: “Chẳng có ai trong gia đình biết về những gì bé Shanti đã nói cả. Không ai muốn tìm hiểu xem căn nhà ở Mathura hay người mà Shanti nói là chồng

ấy là có thật hay không! Cả nhà chúng tôi chỉ mong sao Shanti quên hết những gì cháu thường nhắc đến mà thôi”.








 Về sau, ông giáo ấy lại đến lần nữa và lần này đi cùng một người có vai vế ở trường, đó là ông Lala Kishan Chand. Hai người này yêu cầu Shanti mô tả thật rõ ràng căn nhà ở Mathura,

cả số nhà, tên đường nữa. Họ ghi chép lại cẩn thận và hỏi về người đàn ông mà Shanti bảo là người chồng tiền kiếp của mình. Sau đó, ông Chand viết một lá thư trình bày sự việc gởi tới tay Pandit Kedenmath Chowbey ở thị trấn Mathura theo địa chỉ ấy. Họ gọi

đây là “một bức thư may rủi” vì họ không chắc có người và địa chỉ như Shanti đã nói hay không.








Chẳng bao lâu sau, họ nhận được một lá thư từ thị trấn Mathura gởi đến. Tất cả mọi người trong gia đình Shanti ở Delhi khi nhận được bức thư đều vô cùng kinh ngạc vì trên phong

bì có ghi rõ họ tên của người Shanti đã từng bảo là chồng mình, là Pandit Kedernath Chowbey. Khi đọc lá thư, ông Chand vô cùng sửng sốt, vì những gì viết trong thư đều khớp với những gì mà Shanti đã mô tả. Người viết thư này chính là Chowbey.








Chowbey cho biết rằng anh ta có một người vợ tên là Lugdi Bai đã chết. Anh ta cũng rất ngạc nhiên về những điều mà ông Chand đã viết trong thư về chuyện Shanti. Chowbey viết thêm

là anh ta sẽ nhờ một người em họ đang ở Delhi đến gặp mặt Shanti để sáng tỏ thật hư. Khoảng 2 tuần sau, người em họ của Chowbey tên là Pandit Kanjimall đã tìm đến nhà. Ngay lập tức Shanti nhận ra người em họ của chồng mình và hỏi thăm đủ chuyện về con cái,

về gia đình ở Mathura, hỏi luôn cả cửa tiệm bán quần áo ở trước ngôi đền Dwarikadesh tại Mathura của nhà Chowbey.








Luân hồi đầu thai tại Ấn Độ: Trường hợp bé Shanti Devi






 







                  Shanti Devi (ở giữa tấm ảnh) khi còn bé








Luân hồi đầu thai tại Ấn Độ: Trường hợp bé Shanti DeviThấy

Shanti còn nhỏ nhưng lại nói chuyện như người lớn và mọi người trong gia đình cô bé cũng chưa ai từng đặt chân tới thị trấn Mathura, Kanjimall vô cùng kinh ngạc. Tất cả những gì mà Shanti mô tả đều hoàn toàn đúng sự thật.








Vào ngày 12 tháng 11 năm 1935, sau khi nhận được thư của người em họ kể lại chuyện lạ lùng về Shanti, Chowbey bán tín bán nghi, vừa nôn nao hồi hộp, vội vã đáp tàu hỏa từ Mathura

đến Đề Li để gặp Shanti.




Chia sẻ

|
Liên Hệ